Đề cương ôn thi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Trung Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:05' 14-01-2025
Dung lượng: 48.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vũ Trung Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:05' 14-01-2025
Dung lượng: 48.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2024 - 2025
MÔN NGỮ VĂN 11
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (5,0 đ)
1. Phạm vi kiến thức
2. Kiến thức cần ôn tập và các dạng câu hỏt:
- Ôn tập phần Đọc hiểu với 6 câu hỏi, theo các mức độ nhận thức từ thấp đến cao: 2 nhận biết
-> 2 thông hiểu -> 2 vận dụng
-Tỉ lệ điểm: 50%
- Thơ hiện đại
II. PHẦN VIẾT(5,0 điểm)
1/ Yêu cầu:
- Đánh giá kĩ năng viết gồm 01 câu viết đoạn nghị luận văn học (khoảng 600chữ) với các cấp
độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao; các cấp độ này thể hiện trong đáp án /
hướng dẫn chấm.
- Hình thức: tự luận
- Tỉ lệ điểm: 50 %
2/ Kiểu bài: - Viết bài văn nghị luận về đoạn trích/ tác phẩm truyện.
III/ ĐỀ THAM KHẢO
I. Đọc hiểu (5.0 điểm)
ĐỀ 1
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển:
“Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa... còn xa
Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)
(Trích Thuyền và biển – Xuân Quỳnh)
Câu 1. Chỉ ra thể thơ và cách xác định thể thơ của đoạn thơ trên.
Câu 2. Xác định đối tượng tâm tình trong đoạn thơ trên.
Câu 3. Em hiểu như thế nào về khổ thơ sau:
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa... còn xa
Câu 4. Chỉ ra dấu hiệu của biện pháp tu từ nhân hóa và tác dụng của biện pháp tu từ đó trong
đoạn thơ trên.
Câu 5:Nội dung chính bài thơ.
Câu 6. Em rút ra cho mình bài học gì về tình yêu tuổi trẻ qua khổ thơ sau (trình bày bằng
một đoạn văn ngắn khoảng 5-7 dòng):
Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)
ĐỀ 2
I. ĐỌC HIỂU (5,0 ĐIỂM): HS đọc bài thơ và trả lời câu hỏi bên dưới:
HÀ NỘI VÀ TÔI
Tôi lớn lên nơi một thành phố nhỏ
Xin thứ lỗi mỗi khi tôi hờn giận
Tuổi hoa niên về ở bên người
Sấu non ơi, chua chát vị mùa hè
Hà Nội với tôi như người tình hờ hững
Chiều nay ngồi với anh bên hồ
Khao khát cháy lòng vì chẳng của riêng tôi. Cây phượng già bao dung rắc lá vàng trên
Chẳng của riêng tôi, hồ Gươm liễu rủ
tóc
Tôi đã chờ ai hồi hộp những ban chiều
Mình gặp lại sau rất nhiều cách biệt
Mat sa vang ma tim như vỡ nhịp
Sóng dịu dàng xoa nhẹ những ưu tư
Cứ đếm hoài thầm đoán bước chân ai
Ngỡ ngàng, yêu thương, hạnh phúc, chia xa
Chẳng của riêng tôi, đêm yên tĩnh sâu đằm
Tôi mới hiểu tôi yêu người đến vậy
Hương hoa sữa ngập tràn bao dự cảm
Nỗi khao khát hóa thân thời trẻ dại
Nhà hát lớn chìm tan trong sóng nhạc
Đến bây giờ Hà Nội của tôi chưa?
Ngỡ mình là Natasa trong đêm trăng
Tôi đã nói lời chia tay với anh
- Tác giả: PHẠM THU YẾN, Sinh: 1954. Quê:
Nam Định. Hiện công tác tại Hà Nội
Gió tan tác, lá ngập tràn phố vắng
- Tác phẩm thơ đã in: BIẾT MÌNH TRONG
MẮT AI (1 + 2)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6:
Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình.
Câu 2: Tìm những hình ảnh miêu tả Hà Nội trong bài thơ.
Câu 3: Tác dụng biện pháp tu từ điệp ngữ “chẳng của riêng tôi” trong bài thơ.
Câu 4: Tác giả đã thể hiện những cảm xúc nào khi nhớ về Hà Nội.
Câu 5: Tại sao tác giả lại so sánh Hà Nội với “người tình hờ hững”.
Câu 6: Ý nghĩa hình ảnh “sấu non ơi, chua chát vị mùa hè” trong bài thơ.
ĐỀ 3:
I. Phần đọc hiểu (5,0 điểm): Đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi bên dưới
DÒNG SÔNG QUÊ ANH, DÒNG SÔNG QUÊ EM
Dòng sông Đáy quê em
Bình minh trên công trường
Sông trăng hay sông lụa
Mở ra trên dòng thác
Nong kén vàng như lúa
Nguồn than trắng vô biên
Tròn vạnh một góc trời
Nước reo thành điệu nhạc
Là sông dâu tằm ơi
Sóng xanh như mắt trẻ
Sao giống nhau đến thế
Tiếng mưa tiếng tằm ăn
Dòng tơ và dòng thác
Sao gắn bó với nhau
Áo lụa sáng đèn màu
Đêm liên hoan em hát
Dòng sông Đà quê anh
Đá dựng ghềnh dựng thác
Cuộc đời lên bát ngát
Chúng mình đi dựng xây
Mênh mông ngàn sóng bạc
Đàn voi đá nhấp nhô
Anh lại gặp em đây
Hai dòng sông họp bạn...
Sông cho anh làm thơ
Về tiếng gầm của sóng
Về tầm cao chiều rộng
Những thiết kế công trình
Tác giả: Lai Vu (1942-1990), quê Hà Tây.
Tác phẩm thơ đã in: TIẾNG MƯA
Câu 1. Xác định đối tượng trữ tình được miêu tả trong bài thơ.
Câu 2. Chỉ ra cách gieo vần của bài thơ.
Câu 3. Phân tích tác dụng của sử dụng các câu hỏi: "Sông trăng hay sông lụa" "Sao giống
nhau đến thế" trong bài thơ trên.
Câu 4: Nội dung chính bài thơ.
Câu 5. Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả dành cho đối tượng trữ tình được miêu tả
trong bài thơ.
Câu 6. Từ vẻ đẹp của hai dòng sông trong bài thơ và hiện thực của những dòng sông của đất
nước Việt Nam ngày nay, em hãy viết một đoạn văn khoảng 5-7 dòng để gửi đến mọi người
dân một thông điệp thiết thực nhất.
ĐỀ 4
Đọc – hiểu (5,0 điểm)
HS đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CÁNH ĐỒNG
Tác giả: NGÂN HOA Sinh: 1969. Quê: Hà Nam Tác phẩm thơ đã in: CÁNH ĐỒNG.
NHỮNG BÔNG LÚA
Những đóa cúc vừa hái về từ cánh đồng mùa xuân rộng lớn
Tỏa sáng trên chiếc bình gốm sẫm màu
Chạm vào em một chiếc lá già nua
Một nụ hoa bé bỏng
Một hơi thở run run
Một làn sương ẩm ướt
Chạm vào em một lảnh lót trong veo
Một vang rền trầm đục
Một nức nở âm u
Một lặng câm rực rỡ
Em chạy về với cánh đồng rộng lớn mùa xuân
Chân ngập trong đất mềm tơi xốp
Em gọi tên những loài hoa chưa kịp mọc
Em gọi tên những trái cây chưa kịp ra đời
Những trái cây đang ngủ trong hạt mầm vừa nứt
Đang ngủ trong đóa hoa nấp dưới đất cày
Dưới lớp đất cày có những chiếc bình gốm
Chưa kịp thành hình chờ đợi các loài hoa.
Thực hiện các câu hỏi sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính.
Câu 2. Trong bài thơ nhân vật trữ tình đã chạm vào những điều gì.
Câu 3. Phân tích tác dụng của phép điệp được sử dụng trong đoạn câu thơ sau:
Chạm vào em một chiếc lá già nua
Một nụ hoa bé bỏng
Một hơi thở run run
Một làn sương ẩm ướt
Chạm vào em một lảnh lót trong veo
Một vang rền trầm đục
Một nức nở âm u
Một lặng câm rực rỡ
Câu 4: Nội dung chính của bài thơ.
Câu 5. Hình ảnh "những chiếc bình gốm" gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì? Tại sao anh/chị
có những suy nghĩ như vậy?
Câu 6. Bài thơ đã bồi đắp cho anh/chị những tình cảm như thế nào đối với quê hương. Vì sao
anh/chị khẳng định như vậy?
II. LÀM VĂN (5,0 điểm)
ĐỀ 1
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và
nghệ thuật trong tác phẩm sau:
Lược dẫn:
(Gia đình anh chị Chuột gồm 4 miệng ăn đang ở trong hoàn cảnh nghèo đói phải vay tiền
của bà Huyện để mua gạo, mua thuốc cho chồng ốm nặng. Chị đĩ Chuột phải nấu cám và
vờ bảo là chè để dỗ hai con ăn cho đỡ đói, dành cơm trắng cho anh đĩ Chuột mong anh
mau hết bệnh. Khi nồi cám được bê lên, lũ trẻ rất háo hức vì được ăn chè, nhưng được
miếng thứ 2 thì thằng cu bé không thể nuốt trôi và khóc òa lên. Còn cái Gái đã lớn nên
hiểu chuyện, nó và chị đĩ Chuột vẫn cố ăn những bát cám cho đỡ đói. Để dỗ thằng cu bé
nín, chị đĩ Chuột liền bế nó vào chỗ anh đĩ Chuột đang nằm để hỏi han và xin chút cơm
trắng cho thằng cu bé ăn. Anh đĩ Chuột biết vì sao nó khóc, cho nên khi chị đĩ Chuột vừa
bế con ra để đi mua thuốc cho anh thì anh liền gọi cái Gái vào hỏi chuyện)
.. Người cha khốn nạn nhìn đứa con chòng chọc, thở dài. Một giọt lệ từ từ lăn xuống chiếu.
- Thầy bảo gì con ạ?
- Lúc nãy mẹ con mày ăn cám
phải không? Gái gượng cười cãi:
- Ăn chè
đấy chứ.
Bố nó
chép
miệng:
- Khốn nạn, chè đâu mà ăn, cơm còn không có nữa là chè! Rõ mày khổ từ trong
bụng mẹ.. Cái Gái cúi đầu xuống không nói. Anh đĩ Chuột thở dài:
- Con đi lấy cho thầy cái ghế buộc giậu (1), với sợi thừng ở gác bếp để thầy mắc lại cái
võng, thế này cao quá.
Cái Gái lấy ghế và thừng vào. Anh đĩ bảo:
- Để đấy cho thầy rồi ra vườn làm cỏ đi.
Nó ra vườn, anh gượng ngồi dậy, xuống khỏi giường, mon men ra đóng chặt cửa buồng
lại. Anh lấy cái thừng, làm một cái tròng chắc chắn, dùng hết sức tàn còn lại, trèo lên ghế,
hai chân khẳng khiu run lẩy bẩy. Anh buộc cẩn thận một đầu dây lên xà nhà, buộc xong,
mệt quá, anh đu vào cái thừng, gục đầu xuống thở. Anh thấy lòng chua xót, nước mắt giàn
ra hai má lõm. Rồi anh quả quyết, anh đứng thẳng người lên, chui đầu vào tròng, cái
thừng cứng cáp cọ vào cổ làm anh rùng mình, khóc nấc lên một tiếng. Cả cái thân hình
mảnh dẻ bắt đầu rung chuyển như một tàu lá run trước gió. Bỗng anh ngừng bặt, ngây
người ra nghe ngóng. Tiếng ai vừa gọi ngoài ngõ, tiếp đến cái Gái thưa và chạy ra, tiếng
người kia the thé:
- Bu (2) mày đâu?
Tiếng cái Gái rụt rè đáp lại:
- Bẩm bà, bu con đi vắng.- Đi vắng! Đi vắng mãi! Mày về bảo con mẹ mày nội (3) ngày
mai không trả tiền tao thì tao đào mả lên đấy. Cái giống (4) chỉ biết ăn không.
Anh đĩ Chuột rít hai hàm răng lại. Hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất.
Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng,
nó chỉ còn gật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng.
Ở ngoài ngõ, mẹ con chị đĩ Chuột vừa kêu khóc vừa van lạy. Bà Huyện nhất định bắt mẻ
gạo (5) mới đong để trừ sáu hào (6) chị Chuột vay từ hai tháng trước cho chồng uống
thuốc.
(Trích" Nghèo "– trang 22, 23 tập 1, Tuyển tập Nam Cao- NXB Văn học- 2002)
*Tác phẩm Nghèo: In trong Tiểu thuyết thứ bảy số 158 Ngày 5-6-1937 với bút danh Thúy
Rư Truyện viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945.
[1] : Giậu: Hàng rào
[2] bu: Mẹ (cách gọi mẹ ngày xưa)
[3] nội: Trong ngày
[4] cái giống: Cái đồ
[5] mẻ gạo: Chỗ gạo, thúng gạo
[6] hào: Đơn vị tính tiền ngày xưa
ĐỀ 2 (5,0 điểm)
Tóm tắt truyện: Mùa đông đến mà không báo trước. Sau một đêm mưa, trời bỗng trở
lạnh. Mọi người đều đã mặc áo ấm. Sáng nay, Sơn được mẹ cho mặc một cái áo vệ sinh màu
nâu sẫm với một cái áo dạ khâu chỉ đỏ. Sau đó, Sơn cùng chị Lan ra ngoài chơi. Những đứa
trẻ ở xóm chợ nghèo như thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc trầm trồ trước chiếc áo của
Sơn. Lan phát hiện Hiên đứng cách đó không xa. Cô bé chỉ mặc một manh áo rách tả tơi, hở
cả lưng và tay. Thương Hiên, Sơn nói với chị lấy cái áo bông của em gái cho Hiên. Sau đó,
người vú già nói rằng mẹ của Sơn đã phát hiện ra. Hai chị em Sơn sang nhà Hiên để đòi lại
áo nhưng không có ai ở nhà. Lúc về nhà, Hiên đã đem chiếc áo sang trả. Mẹ Sơn hiểu được
gia cảnh và cho mẹ Hiên vay năm hào về may áo cho con. Khi mẹ con Hiên ra về, mẹ Sơn
không trách mắng mà âu yếm ôm hai con vào lòng mà bảo: “Hai con tôi quý quá, dám tự do
lấy áo đem cho người ta, không sợ mẹ mắng ư?”.
[…] Sơn xúng xính rủ chị ra chợ chơi. Nhà Sơn ở quay lưng vào chợ, cạnh một dãy nhà lá
của những người nghèo khổ mà Sơn quen biết cả vì họ vẫn vào vay mượn ở nhà Sơn. Sơn
biết lũ trẻ con các gia đình ấy chắc bây giờ đương đợi mình ở cuối chợ để đánh khăng, đánh
đáo.
Không phải ngày phiên, nên chợ vắng không. Mấy cái quán chơ vơ lộng gió, rác bẩn rải
rác lẫn với lá rụng của cây đề. Gió thổi mạnh làm Sơn thấy lạnh và cay mắt. Nhưng chân
trời trong hơn mọi hôm, những làng ở xa Sơn thấy rõ như ở gần. Mặt đất rắn lại và nứt nẻ
những đường nho nhỏ, kêu vang lên lanh tanh dưới nhịp guốc của hai chị em.
Đến cuối chợ đã thấy lũ trẻ đang quây quần chơi nghịch. Chúng nó thấy chị em Sơn đến
đều lộ vẻ vui mừng, nhưng chúng vẫn đứng xa, không dám vồ vập. Chúng như biết cái phận
nghèo hèn của chúng vậy, tuy Sơn và chị vẫn thân mật chơi đùa với, chứ không kiêu kỳ và
khinh khỉnh như các em họ của Sơn.
Thằng Cúc, con Xuân, con Tý, con Túc sán gần giương đôi mắt ngắm bộ quần áo mới của
Sơn. Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc
đã rách vá nhiều chỗ. Nhưng hôm nay, môi chúng nó tím lại và qua những chỗ áo rách, da
thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hàm răng đập vào nhau.
Thằng Xuân đến mó vào chiếc áo của Sơn, nó chưa thấy cái áo như thế bao giờ. Sơn lật
vạt áo thâm, chìa áo vệ sinh và áo dạ cho cả bọn xem. Một đứa tắc lưỡi, nói:
- Cái áo này mặc thì nóng lắm. Chắc mua phải đến một đồng bạc chứ không ít, chúng
mày nhỉ.
Đứa khác nói:
- Ngày trước thầy tao cũng có một cái áo như thế, về sau bán cho ông lý mất.
Con Túc ngây ngô giương đôi mắt lên hỏi Sơn:
- Cái này cậu mua tận Hà Nội phải không?
Sơn ưỡn ngực đáp:
- Ở Hà Nội, chứ ở đây làm gì có. Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một cái áo len nhiều tiền hơn
nữa kia.
Chị Lan bỗng giơ tay vẫy một con bé, từ nãy vẫn đứng dựa vào cột quán, gọi:
- Sao không lại đây, Hiên? Lại đây chơi với tôi.
Hiên là đứa con gái bên hàng xóm, bạn với Lan và Duyên. Sơn thấy chị gọi nó không lại,
bước gần đến trông thấy con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở
cả lưng và tay. Chị Lan cũng đến hỏi:
- Sao áo của mày rách thế Hiên, áo lành đâu không mặc?
Con bé bịu xịu nói:
- Hết áo rồi, chỉ còn cái này.
- Sao không bảo u mày may cho?
Sơn bây giờ mới chợt nhớ ra là mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có nghề đi mò cua bắt ốc thì
còn lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa. Sơn thấy động lòng thương, cũng như ban sáng
Sơn đã nhớ thương đến em Duyên ngày trước vẫn cùng nói với Hiên đùa nghịch ở vườn nhà.
Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lại gần chị thì thầm:
- Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ.
- Ừ, phải đấy. Để chị về lấy.
Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ, chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo. Sơn đứng lặng yên
đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui […]
(Trích Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam, Truyện ngắn Thạch Lam, NXB Văn hóa
Thông tin, 2010)
Ghi chú: Thạch Lam (1910-1942), tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh. Ông sinh ra ở Hà
Nội, lúc nhỏ sống ở quê ngoại Cẩm Giàng, Hải Dương. Ông sáng tác nhiều thể loại tiêu là
tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút … Truyện ngắn của ông giàu cảm xúc, lời văn bình dị, đậm
chất thơ. Nhân vật chính thường là những con người nhỏ bé, cuộc sống nhiều vất vả, cơ cực
mà tâm hồn vẫn tinh tế, đôn hậu. Tác phẩm của ông ẩn chứa niềm yêu thương, trân trọng đối
với thiên nhiên, con người, cuộc sống. Các tập truyện ngắn tiêu biểu: Gió đầu mùa, Nắng
trong vườn, Sợi tóc … Truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa trích trong tập truyện ngắn “Gió lạnh
đầu mùa”, xuất bản năm 1937.
Anh/ chị hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật Sơn trong đoạn
trích trên.
ĐỀ 3
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận phân tích nhân vật người mẹ trong đoạn trích sau:
[Lược một đoạn: Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính tên Tâm, được người
mẹ tần tảo sớm khuya nuôi dạy nên người. Tuy nhiên, khi được ra thành phố học tập và
làm việc, trong suốt sáu năm, anh chỉ gửi tiền hàng tháng về cho mẹ, không báo tin mình
đã lấy vợ và tuyệt nhiên không một lời hỏi thăm, không để tâm đến những bức thư mẹ
gửi từ quê ra. Khi bất đắc dĩ có việc phải về nhà, anh mới có dịp gặp lại mẹ…].
Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà
cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác
hơn. Tâm bước qua sân rồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống
từ thuở nhỏ. Tâm cất tiếng gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy,
thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn
mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.
Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:
- Con đã về đấy ư?
- Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ?- Câu nói như khó khăn mới ra
khỏi miệng được.
- Bà ở đây một mình thôi à?
Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:
- Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.
- Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? Tâm nhớ mang máng cái cô
con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng.
- Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.
Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:
- Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó
không chịu lấy. Bà cụ yên lặng một lát.
- Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.
Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm
thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.
Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:
- Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết
tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?
Tâm nhìn ra ngoài đáp:
- Như thường rồi. Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi: - Ở làng có
việc gì lạ không? Bà cụ trả lời:
- Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang
đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế
mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm. [….]
Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn
ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết
thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang,
không có liên lạc gì với nhau cả. Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của
bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.
Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy.
Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:
- Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.
- Thôi, bà để tôi về. Độ này bận
công việc lắm. Tâm lại an ủi:
- Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.
Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo,
trước mặt cô Trinh, chàng nói:
- Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi
lại gửi về cho. Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm
rớm nước mắt.
Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra. [….]
(Trích Trở về, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học,
2004, tr.24-27.)
* Chú thích: Nhà văn Thạch Lam là cây bút xuất sắc trong nhóm Tự lực văn
đoàn. Ông sinh năm 1910 tại Hà Nội, tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là
Nguyễn Tường Lân, bút danh Thạch Lam. Tác phẩm hướng về đời sống bình dị, tình
cảm nghiêng về người nghèo, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Lối viết trữ tình
hướng nội, khơi sâu vào đời sống bên trong với những rung động và cảm giác tế vi.
ĐỀ 4
(Tóm tắt phần đầu truyện: Bà lão ấy chồng chết từ khi thằng con trai mới lọt lòng. Bà
thắt lưng buộc bụng, nuôi con mà chưa nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Con vợ nó
cũng vội vàng đi lấy chồng, đem đứa con gái lên năm giả bà. Bà đã ngót bảy mươi, nuôi cháu
bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười
đồng, thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, rồi
bà ốm một trận thập tử nhất sinh, bà ngày càng yếu đi. Bà đi bế em thuê cho nhà người ta.
Đến lúc chẳng có ai thuê nữa, không kiếm được tiền, hơn ba tháng bà ăn toàn bánh đúc. Tiền
hết cả, bà ra chợ xin. Không ai cho nữa, bà nhịn đói. Cuối cùng bà tìm ta một kế, đến nhà bà
phó Thụ, nuôi cái đĩ, ngoài miệng nói là để thăm cháu vì nhớ cháu, thực chất là để xin một
bữa ăn vì đói quá.)
…Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà
lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm
khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít
bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé
cháu:
- Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé?
- Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được
nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?
Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn
mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng
tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ
hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng
sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ.
Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!
Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà
tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà
chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng,
bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì
ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một
lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật
thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột
bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi
bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một
bài học dạy lũ con gái, con nuôi:
- Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là
đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào! ...
(Trích “Một bữa no” –Nam Cao - Trích Tuyển tập Nam Cao, NXB. Thời đại, 2010)
Anh/ chị hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật bà lão trong
đoạn trích trên.
..................... Hết .....................
Chú thích: Nam Cao (1915 - 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, là nhà văn lớn của trào
lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945, là người có vẻ ngoài lạnh lùng nhưng đời sống
nội tâm phong phú, có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương. Nam Cao luôn đi sâu khai
thác đời sống nội tâm, tinh thần nhân vật, sử dụng phương pháp độc thoại nội dung đầy
khéo léo, tinh tế. Truyện ngắn Một bữa no là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn viết về đề tài
người nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám.
MÔN NGỮ VĂN 11
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (5,0 đ)
1. Phạm vi kiến thức
2. Kiến thức cần ôn tập và các dạng câu hỏt:
- Ôn tập phần Đọc hiểu với 6 câu hỏi, theo các mức độ nhận thức từ thấp đến cao: 2 nhận biết
-> 2 thông hiểu -> 2 vận dụng
-Tỉ lệ điểm: 50%
- Thơ hiện đại
II. PHẦN VIẾT(5,0 điểm)
1/ Yêu cầu:
- Đánh giá kĩ năng viết gồm 01 câu viết đoạn nghị luận văn học (khoảng 600chữ) với các cấp
độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao; các cấp độ này thể hiện trong đáp án /
hướng dẫn chấm.
- Hình thức: tự luận
- Tỉ lệ điểm: 50 %
2/ Kiểu bài: - Viết bài văn nghị luận về đoạn trích/ tác phẩm truyện.
III/ ĐỀ THAM KHẢO
I. Đọc hiểu (5.0 điểm)
ĐỀ 1
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển:
“Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa... còn xa
Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)
(Trích Thuyền và biển – Xuân Quỳnh)
Câu 1. Chỉ ra thể thơ và cách xác định thể thơ của đoạn thơ trên.
Câu 2. Xác định đối tượng tâm tình trong đoạn thơ trên.
Câu 3. Em hiểu như thế nào về khổ thơ sau:
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa... còn xa
Câu 4. Chỉ ra dấu hiệu của biện pháp tu từ nhân hóa và tác dụng của biện pháp tu từ đó trong
đoạn thơ trên.
Câu 5:Nội dung chính bài thơ.
Câu 6. Em rút ra cho mình bài học gì về tình yêu tuổi trẻ qua khổ thơ sau (trình bày bằng
một đoạn văn ngắn khoảng 5-7 dòng):
Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)
ĐỀ 2
I. ĐỌC HIỂU (5,0 ĐIỂM): HS đọc bài thơ và trả lời câu hỏi bên dưới:
HÀ NỘI VÀ TÔI
Tôi lớn lên nơi một thành phố nhỏ
Xin thứ lỗi mỗi khi tôi hờn giận
Tuổi hoa niên về ở bên người
Sấu non ơi, chua chát vị mùa hè
Hà Nội với tôi như người tình hờ hững
Chiều nay ngồi với anh bên hồ
Khao khát cháy lòng vì chẳng của riêng tôi. Cây phượng già bao dung rắc lá vàng trên
Chẳng của riêng tôi, hồ Gươm liễu rủ
tóc
Tôi đã chờ ai hồi hộp những ban chiều
Mình gặp lại sau rất nhiều cách biệt
Mat sa vang ma tim như vỡ nhịp
Sóng dịu dàng xoa nhẹ những ưu tư
Cứ đếm hoài thầm đoán bước chân ai
Ngỡ ngàng, yêu thương, hạnh phúc, chia xa
Chẳng của riêng tôi, đêm yên tĩnh sâu đằm
Tôi mới hiểu tôi yêu người đến vậy
Hương hoa sữa ngập tràn bao dự cảm
Nỗi khao khát hóa thân thời trẻ dại
Nhà hát lớn chìm tan trong sóng nhạc
Đến bây giờ Hà Nội của tôi chưa?
Ngỡ mình là Natasa trong đêm trăng
Tôi đã nói lời chia tay với anh
- Tác giả: PHẠM THU YẾN, Sinh: 1954. Quê:
Nam Định. Hiện công tác tại Hà Nội
Gió tan tác, lá ngập tràn phố vắng
- Tác phẩm thơ đã in: BIẾT MÌNH TRONG
MẮT AI (1 + 2)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6:
Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình.
Câu 2: Tìm những hình ảnh miêu tả Hà Nội trong bài thơ.
Câu 3: Tác dụng biện pháp tu từ điệp ngữ “chẳng của riêng tôi” trong bài thơ.
Câu 4: Tác giả đã thể hiện những cảm xúc nào khi nhớ về Hà Nội.
Câu 5: Tại sao tác giả lại so sánh Hà Nội với “người tình hờ hững”.
Câu 6: Ý nghĩa hình ảnh “sấu non ơi, chua chát vị mùa hè” trong bài thơ.
ĐỀ 3:
I. Phần đọc hiểu (5,0 điểm): Đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi bên dưới
DÒNG SÔNG QUÊ ANH, DÒNG SÔNG QUÊ EM
Dòng sông Đáy quê em
Bình minh trên công trường
Sông trăng hay sông lụa
Mở ra trên dòng thác
Nong kén vàng như lúa
Nguồn than trắng vô biên
Tròn vạnh một góc trời
Nước reo thành điệu nhạc
Là sông dâu tằm ơi
Sóng xanh như mắt trẻ
Sao giống nhau đến thế
Tiếng mưa tiếng tằm ăn
Dòng tơ và dòng thác
Sao gắn bó với nhau
Áo lụa sáng đèn màu
Đêm liên hoan em hát
Dòng sông Đà quê anh
Đá dựng ghềnh dựng thác
Cuộc đời lên bát ngát
Chúng mình đi dựng xây
Mênh mông ngàn sóng bạc
Đàn voi đá nhấp nhô
Anh lại gặp em đây
Hai dòng sông họp bạn...
Sông cho anh làm thơ
Về tiếng gầm của sóng
Về tầm cao chiều rộng
Những thiết kế công trình
Tác giả: Lai Vu (1942-1990), quê Hà Tây.
Tác phẩm thơ đã in: TIẾNG MƯA
Câu 1. Xác định đối tượng trữ tình được miêu tả trong bài thơ.
Câu 2. Chỉ ra cách gieo vần của bài thơ.
Câu 3. Phân tích tác dụng của sử dụng các câu hỏi: "Sông trăng hay sông lụa" "Sao giống
nhau đến thế" trong bài thơ trên.
Câu 4: Nội dung chính bài thơ.
Câu 5. Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả dành cho đối tượng trữ tình được miêu tả
trong bài thơ.
Câu 6. Từ vẻ đẹp của hai dòng sông trong bài thơ và hiện thực của những dòng sông của đất
nước Việt Nam ngày nay, em hãy viết một đoạn văn khoảng 5-7 dòng để gửi đến mọi người
dân một thông điệp thiết thực nhất.
ĐỀ 4
Đọc – hiểu (5,0 điểm)
HS đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CÁNH ĐỒNG
Tác giả: NGÂN HOA Sinh: 1969. Quê: Hà Nam Tác phẩm thơ đã in: CÁNH ĐỒNG.
NHỮNG BÔNG LÚA
Những đóa cúc vừa hái về từ cánh đồng mùa xuân rộng lớn
Tỏa sáng trên chiếc bình gốm sẫm màu
Chạm vào em một chiếc lá già nua
Một nụ hoa bé bỏng
Một hơi thở run run
Một làn sương ẩm ướt
Chạm vào em một lảnh lót trong veo
Một vang rền trầm đục
Một nức nở âm u
Một lặng câm rực rỡ
Em chạy về với cánh đồng rộng lớn mùa xuân
Chân ngập trong đất mềm tơi xốp
Em gọi tên những loài hoa chưa kịp mọc
Em gọi tên những trái cây chưa kịp ra đời
Những trái cây đang ngủ trong hạt mầm vừa nứt
Đang ngủ trong đóa hoa nấp dưới đất cày
Dưới lớp đất cày có những chiếc bình gốm
Chưa kịp thành hình chờ đợi các loài hoa.
Thực hiện các câu hỏi sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính.
Câu 2. Trong bài thơ nhân vật trữ tình đã chạm vào những điều gì.
Câu 3. Phân tích tác dụng của phép điệp được sử dụng trong đoạn câu thơ sau:
Chạm vào em một chiếc lá già nua
Một nụ hoa bé bỏng
Một hơi thở run run
Một làn sương ẩm ướt
Chạm vào em một lảnh lót trong veo
Một vang rền trầm đục
Một nức nở âm u
Một lặng câm rực rỡ
Câu 4: Nội dung chính của bài thơ.
Câu 5. Hình ảnh "những chiếc bình gốm" gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì? Tại sao anh/chị
có những suy nghĩ như vậy?
Câu 6. Bài thơ đã bồi đắp cho anh/chị những tình cảm như thế nào đối với quê hương. Vì sao
anh/chị khẳng định như vậy?
II. LÀM VĂN (5,0 điểm)
ĐỀ 1
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và
nghệ thuật trong tác phẩm sau:
Lược dẫn:
(Gia đình anh chị Chuột gồm 4 miệng ăn đang ở trong hoàn cảnh nghèo đói phải vay tiền
của bà Huyện để mua gạo, mua thuốc cho chồng ốm nặng. Chị đĩ Chuột phải nấu cám và
vờ bảo là chè để dỗ hai con ăn cho đỡ đói, dành cơm trắng cho anh đĩ Chuột mong anh
mau hết bệnh. Khi nồi cám được bê lên, lũ trẻ rất háo hức vì được ăn chè, nhưng được
miếng thứ 2 thì thằng cu bé không thể nuốt trôi và khóc òa lên. Còn cái Gái đã lớn nên
hiểu chuyện, nó và chị đĩ Chuột vẫn cố ăn những bát cám cho đỡ đói. Để dỗ thằng cu bé
nín, chị đĩ Chuột liền bế nó vào chỗ anh đĩ Chuột đang nằm để hỏi han và xin chút cơm
trắng cho thằng cu bé ăn. Anh đĩ Chuột biết vì sao nó khóc, cho nên khi chị đĩ Chuột vừa
bế con ra để đi mua thuốc cho anh thì anh liền gọi cái Gái vào hỏi chuyện)
.. Người cha khốn nạn nhìn đứa con chòng chọc, thở dài. Một giọt lệ từ từ lăn xuống chiếu.
- Thầy bảo gì con ạ?
- Lúc nãy mẹ con mày ăn cám
phải không? Gái gượng cười cãi:
- Ăn chè
đấy chứ.
Bố nó
chép
miệng:
- Khốn nạn, chè đâu mà ăn, cơm còn không có nữa là chè! Rõ mày khổ từ trong
bụng mẹ.. Cái Gái cúi đầu xuống không nói. Anh đĩ Chuột thở dài:
- Con đi lấy cho thầy cái ghế buộc giậu (1), với sợi thừng ở gác bếp để thầy mắc lại cái
võng, thế này cao quá.
Cái Gái lấy ghế và thừng vào. Anh đĩ bảo:
- Để đấy cho thầy rồi ra vườn làm cỏ đi.
Nó ra vườn, anh gượng ngồi dậy, xuống khỏi giường, mon men ra đóng chặt cửa buồng
lại. Anh lấy cái thừng, làm một cái tròng chắc chắn, dùng hết sức tàn còn lại, trèo lên ghế,
hai chân khẳng khiu run lẩy bẩy. Anh buộc cẩn thận một đầu dây lên xà nhà, buộc xong,
mệt quá, anh đu vào cái thừng, gục đầu xuống thở. Anh thấy lòng chua xót, nước mắt giàn
ra hai má lõm. Rồi anh quả quyết, anh đứng thẳng người lên, chui đầu vào tròng, cái
thừng cứng cáp cọ vào cổ làm anh rùng mình, khóc nấc lên một tiếng. Cả cái thân hình
mảnh dẻ bắt đầu rung chuyển như một tàu lá run trước gió. Bỗng anh ngừng bặt, ngây
người ra nghe ngóng. Tiếng ai vừa gọi ngoài ngõ, tiếp đến cái Gái thưa và chạy ra, tiếng
người kia the thé:
- Bu (2) mày đâu?
Tiếng cái Gái rụt rè đáp lại:
- Bẩm bà, bu con đi vắng.- Đi vắng! Đi vắng mãi! Mày về bảo con mẹ mày nội (3) ngày
mai không trả tiền tao thì tao đào mả lên đấy. Cái giống (4) chỉ biết ăn không.
Anh đĩ Chuột rít hai hàm răng lại. Hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất.
Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng,
nó chỉ còn gật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng.
Ở ngoài ngõ, mẹ con chị đĩ Chuột vừa kêu khóc vừa van lạy. Bà Huyện nhất định bắt mẻ
gạo (5) mới đong để trừ sáu hào (6) chị Chuột vay từ hai tháng trước cho chồng uống
thuốc.
(Trích" Nghèo "– trang 22, 23 tập 1, Tuyển tập Nam Cao- NXB Văn học- 2002)
*Tác phẩm Nghèo: In trong Tiểu thuyết thứ bảy số 158 Ngày 5-6-1937 với bút danh Thúy
Rư Truyện viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945.
[1] : Giậu: Hàng rào
[2] bu: Mẹ (cách gọi mẹ ngày xưa)
[3] nội: Trong ngày
[4] cái giống: Cái đồ
[5] mẻ gạo: Chỗ gạo, thúng gạo
[6] hào: Đơn vị tính tiền ngày xưa
ĐỀ 2 (5,0 điểm)
Tóm tắt truyện: Mùa đông đến mà không báo trước. Sau một đêm mưa, trời bỗng trở
lạnh. Mọi người đều đã mặc áo ấm. Sáng nay, Sơn được mẹ cho mặc một cái áo vệ sinh màu
nâu sẫm với một cái áo dạ khâu chỉ đỏ. Sau đó, Sơn cùng chị Lan ra ngoài chơi. Những đứa
trẻ ở xóm chợ nghèo như thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc trầm trồ trước chiếc áo của
Sơn. Lan phát hiện Hiên đứng cách đó không xa. Cô bé chỉ mặc một manh áo rách tả tơi, hở
cả lưng và tay. Thương Hiên, Sơn nói với chị lấy cái áo bông của em gái cho Hiên. Sau đó,
người vú già nói rằng mẹ của Sơn đã phát hiện ra. Hai chị em Sơn sang nhà Hiên để đòi lại
áo nhưng không có ai ở nhà. Lúc về nhà, Hiên đã đem chiếc áo sang trả. Mẹ Sơn hiểu được
gia cảnh và cho mẹ Hiên vay năm hào về may áo cho con. Khi mẹ con Hiên ra về, mẹ Sơn
không trách mắng mà âu yếm ôm hai con vào lòng mà bảo: “Hai con tôi quý quá, dám tự do
lấy áo đem cho người ta, không sợ mẹ mắng ư?”.
[…] Sơn xúng xính rủ chị ra chợ chơi. Nhà Sơn ở quay lưng vào chợ, cạnh một dãy nhà lá
của những người nghèo khổ mà Sơn quen biết cả vì họ vẫn vào vay mượn ở nhà Sơn. Sơn
biết lũ trẻ con các gia đình ấy chắc bây giờ đương đợi mình ở cuối chợ để đánh khăng, đánh
đáo.
Không phải ngày phiên, nên chợ vắng không. Mấy cái quán chơ vơ lộng gió, rác bẩn rải
rác lẫn với lá rụng của cây đề. Gió thổi mạnh làm Sơn thấy lạnh và cay mắt. Nhưng chân
trời trong hơn mọi hôm, những làng ở xa Sơn thấy rõ như ở gần. Mặt đất rắn lại và nứt nẻ
những đường nho nhỏ, kêu vang lên lanh tanh dưới nhịp guốc của hai chị em.
Đến cuối chợ đã thấy lũ trẻ đang quây quần chơi nghịch. Chúng nó thấy chị em Sơn đến
đều lộ vẻ vui mừng, nhưng chúng vẫn đứng xa, không dám vồ vập. Chúng như biết cái phận
nghèo hèn của chúng vậy, tuy Sơn và chị vẫn thân mật chơi đùa với, chứ không kiêu kỳ và
khinh khỉnh như các em họ của Sơn.
Thằng Cúc, con Xuân, con Tý, con Túc sán gần giương đôi mắt ngắm bộ quần áo mới của
Sơn. Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc
đã rách vá nhiều chỗ. Nhưng hôm nay, môi chúng nó tím lại và qua những chỗ áo rách, da
thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hàm răng đập vào nhau.
Thằng Xuân đến mó vào chiếc áo của Sơn, nó chưa thấy cái áo như thế bao giờ. Sơn lật
vạt áo thâm, chìa áo vệ sinh và áo dạ cho cả bọn xem. Một đứa tắc lưỡi, nói:
- Cái áo này mặc thì nóng lắm. Chắc mua phải đến một đồng bạc chứ không ít, chúng
mày nhỉ.
Đứa khác nói:
- Ngày trước thầy tao cũng có một cái áo như thế, về sau bán cho ông lý mất.
Con Túc ngây ngô giương đôi mắt lên hỏi Sơn:
- Cái này cậu mua tận Hà Nội phải không?
Sơn ưỡn ngực đáp:
- Ở Hà Nội, chứ ở đây làm gì có. Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một cái áo len nhiều tiền hơn
nữa kia.
Chị Lan bỗng giơ tay vẫy một con bé, từ nãy vẫn đứng dựa vào cột quán, gọi:
- Sao không lại đây, Hiên? Lại đây chơi với tôi.
Hiên là đứa con gái bên hàng xóm, bạn với Lan và Duyên. Sơn thấy chị gọi nó không lại,
bước gần đến trông thấy con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở
cả lưng và tay. Chị Lan cũng đến hỏi:
- Sao áo của mày rách thế Hiên, áo lành đâu không mặc?
Con bé bịu xịu nói:
- Hết áo rồi, chỉ còn cái này.
- Sao không bảo u mày may cho?
Sơn bây giờ mới chợt nhớ ra là mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có nghề đi mò cua bắt ốc thì
còn lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa. Sơn thấy động lòng thương, cũng như ban sáng
Sơn đã nhớ thương đến em Duyên ngày trước vẫn cùng nói với Hiên đùa nghịch ở vườn nhà.
Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lại gần chị thì thầm:
- Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ.
- Ừ, phải đấy. Để chị về lấy.
Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ, chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo. Sơn đứng lặng yên
đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui […]
(Trích Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam, Truyện ngắn Thạch Lam, NXB Văn hóa
Thông tin, 2010)
Ghi chú: Thạch Lam (1910-1942), tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh. Ông sinh ra ở Hà
Nội, lúc nhỏ sống ở quê ngoại Cẩm Giàng, Hải Dương. Ông sáng tác nhiều thể loại tiêu là
tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút … Truyện ngắn của ông giàu cảm xúc, lời văn bình dị, đậm
chất thơ. Nhân vật chính thường là những con người nhỏ bé, cuộc sống nhiều vất vả, cơ cực
mà tâm hồn vẫn tinh tế, đôn hậu. Tác phẩm của ông ẩn chứa niềm yêu thương, trân trọng đối
với thiên nhiên, con người, cuộc sống. Các tập truyện ngắn tiêu biểu: Gió đầu mùa, Nắng
trong vườn, Sợi tóc … Truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa trích trong tập truyện ngắn “Gió lạnh
đầu mùa”, xuất bản năm 1937.
Anh/ chị hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật Sơn trong đoạn
trích trên.
ĐỀ 3
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận phân tích nhân vật người mẹ trong đoạn trích sau:
[Lược một đoạn: Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính tên Tâm, được người
mẹ tần tảo sớm khuya nuôi dạy nên người. Tuy nhiên, khi được ra thành phố học tập và
làm việc, trong suốt sáu năm, anh chỉ gửi tiền hàng tháng về cho mẹ, không báo tin mình
đã lấy vợ và tuyệt nhiên không một lời hỏi thăm, không để tâm đến những bức thư mẹ
gửi từ quê ra. Khi bất đắc dĩ có việc phải về nhà, anh mới có dịp gặp lại mẹ…].
Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà
cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác
hơn. Tâm bước qua sân rồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống
từ thuở nhỏ. Tâm cất tiếng gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy,
thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn
mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước.
Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:
- Con đã về đấy ư?
- Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ?- Câu nói như khó khăn mới ra
khỏi miệng được.
- Bà ở đây một mình thôi à?
Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:
- Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.
- Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không? Tâm nhớ mang máng cái cô
con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng.
- Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.
Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:
- Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó
không chịu lấy. Bà cụ yên lặng một lát.
- Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.
Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm
thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người.
Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:
- Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết
tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?
Tâm nhìn ra ngoài đáp:
- Như thường rồi. Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi: - Ở làng có
việc gì lạ không? Bà cụ trả lời:
- Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang
đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế
mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm. [….]
Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn
ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết
thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang,
không có liên lạc gì với nhau cả. Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của
bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.
Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy.
Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:
- Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.
- Thôi, bà để tôi về. Độ này bận
công việc lắm. Tâm lại an ủi:
- Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.
Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo,
trước mặt cô Trinh, chàng nói:
- Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi
lại gửi về cho. Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm
rớm nước mắt.
Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra. [….]
(Trích Trở về, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học,
2004, tr.24-27.)
* Chú thích: Nhà văn Thạch Lam là cây bút xuất sắc trong nhóm Tự lực văn
đoàn. Ông sinh năm 1910 tại Hà Nội, tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là
Nguyễn Tường Lân, bút danh Thạch Lam. Tác phẩm hướng về đời sống bình dị, tình
cảm nghiêng về người nghèo, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Lối viết trữ tình
hướng nội, khơi sâu vào đời sống bên trong với những rung động và cảm giác tế vi.
ĐỀ 4
(Tóm tắt phần đầu truyện: Bà lão ấy chồng chết từ khi thằng con trai mới lọt lòng. Bà
thắt lưng buộc bụng, nuôi con mà chưa nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Con vợ nó
cũng vội vàng đi lấy chồng, đem đứa con gái lên năm giả bà. Bà đã ngót bảy mươi, nuôi cháu
bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười
đồng, thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, rồi
bà ốm một trận thập tử nhất sinh, bà ngày càng yếu đi. Bà đi bế em thuê cho nhà người ta.
Đến lúc chẳng có ai thuê nữa, không kiếm được tiền, hơn ba tháng bà ăn toàn bánh đúc. Tiền
hết cả, bà ra chợ xin. Không ai cho nữa, bà nhịn đói. Cuối cùng bà tìm ta một kế, đến nhà bà
phó Thụ, nuôi cái đĩ, ngoài miệng nói là để thăm cháu vì nhớ cháu, thực chất là để xin một
bữa ăn vì đói quá.)
…Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà
lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm
khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít
bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé
cháu:
- Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé?
- Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được
nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?
Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn
mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng
tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ
hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng
sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ.
Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!
Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà
tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà
chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng,
bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì
ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một
lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật
thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột
bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi
bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một
bài học dạy lũ con gái, con nuôi:
- Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là
đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào! ...
(Trích “Một bữa no” –Nam Cao - Trích Tuyển tập Nam Cao, NXB. Thời đại, 2010)
Anh/ chị hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật bà lão trong
đoạn trích trên.
..................... Hết .....................
Chú thích: Nam Cao (1915 - 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, là nhà văn lớn của trào
lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945, là người có vẻ ngoài lạnh lùng nhưng đời sống
nội tâm phong phú, có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương. Nam Cao luôn đi sâu khai
thác đời sống nội tâm, tinh thần nhân vật, sử dụng phương pháp độc thoại nội dung đầy
khéo léo, tinh tế. Truyện ngắn Một bữa no là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn viết về đề tài
người nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám.
 
XIN CHÀO VIỆT NAM
CHÀO XUÂN BÍNH NGỌ 2026
Chào mừng quý vị đến với CHÚT LƯU LẠI.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.






Các ý kiến mới nhất